Tuesday, 12 August 2014

Nhỏ Ròm





Hà Hoàng Vĩnh Lạc::


V
ào đầu mùa xuân 1965 Ất Tỵ ở miền Trung có nhiều xã thuộc miền núi hoặc miền biển cách xa khu kiểm soát của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã bị quân đội Bắc Việt chiếm lĩnh trong đó quận lỵ Quế Sơn cũng không ngoại lệ.



Núi Chúa, Quảng Nam
(hình Thanhniên.com.vn)
Con đường từ Hương An xã Phú Hương (nay là xã Hương An) chỉ có an ninh từ ngã ba lên tới Vũng Chè chưa tới 1 km, đêm đêm du kích cùng những bộ phận tuyên truyền (Việt cộng) đặt loa ở đầu dốc Vũng Chè (núi Quế 67 Mỹ làm căn cứ) kêu gọi quân lính và bộ phận hành chánh của bên VNCH hãy nên quay về với nhân dân với sự khoan hồng của chính quyền Cách Mạng, đường sá từ đó trở lên tới ngã ba chợ Nón thuộc xã Sơn Thượng nay là Quế Thuận đều bị đào hang hố cắm chông, gài mìn. Mấy năm đó người dân cũng như quân lính cả hai bên chính quyền đã bị chết không biết là bao nhiêu, các trường học cũng đều nghỉ dạy. 
Những học sinh ở lỡ dỡ vùng tranh chấp nên không thể tiếp tục đi học ở các trường bên vùng quốc gia, còn theo vào vùng tạm chiếm của bên chính phủ lâm thời cách mạng cũng sợ quân lính Mỹ dội bom. Khi đường sá bị ngăn chận thì sự lưu thông không thể chuyển vận hàng hóa được, vật giá ở các vùng trên rất đắc đỏ, cho nên từ già đến trẻ, đàn ông, đàn bà trở thành con buôn rất nhiều, có xe máy nỗ chạy máy nỗ, xe đạp thì chạy xe đạp, ai không dùng hai phương tiện đó được thì gánh gồng một lời mười, hai mươi mà, người đi sớm vướng mìn chết cũng nhiều.

Trong số người đi buôn đó có cả hai chị em nhỏ Ròm, cô chị thì đã đang vào tuổi "Đá Buồn" không đẹp rực rỡ nhưng mặt trông hiền lành, dễ thương vô cùng, cả hai chị em đều chạy xe đạp cùng một số nữ đồng lứa của hai chị em nhà Ròm. Nói chung mấy cô đó, cô nào cũng xinh cả nhưng không giống cô chị nhỏ Ròm mà ngược lại. Cũng vì cái hiền lành đó của cô chị mà đã làm cho tôi để ý rồi đến làm quen và cô chị cũng vui vẻ trò chuyện với tôi. Rồi có một hôm vào ngày Thứ bảy tôi từ trường ở Hội An về nhà gặp cô chị, hai đứa đứng nói chuyện cũng lâu, sau cô bận đi lấy hàng nên chia tay hẹn ngày mai Chúa Nhật gặp lại.
Khi cô vừa đi khỏi thì một anh bạn rất thân tên Trương Nhật Tân học cùng trường gặp tôi và hỏi.
- Anh quen với Ba hả?
- Cô ta tên Ba à? tôi nói mới quen mấy tháng nay.
Anh vừa cười vừa hỏi:
- Quen thường hay quen mùi mẫn.
Tôi cũng cười và hỏi lại:
- Quen mùi mẫn là sao? Thường là sao?
Anh chưa trả lời vội mà nhìn tôi với ánh mắt hoài nghi rồi hỏi:
-Thật lòng không hiểu hay đùa? Có yêu nhau chưa?
Tôi trả lời:
-Chưa có, nhưng những ngày sắp tới thì không biết.
Giác quan thứ sáu báo cho tôi biết anh chàng này có điều gì bất thường nên tôi gạn hỏi:
-Bộ anh quen với cô ta sao?
-Tôi rất thích cô ấy.
Lời thú thật của anh bạn khiến tôi có một thoáng buồn, vì tôi và anh rất thân thiết, hai đứa đã từng đèo nhau với chiếc xe đạp không có ba ga sau, từ Hội An đi Đà – Nẵng thay nhau nằm dưới sườn mà anh đèo tôi nhiều hơn.
Anh rủ tôi vào quán uống nước và kể lể tâm sự:
-Tao gặp và quen Ba trên đoạn đường Hương An, Quế Sơn. Có một vài lần ghé vào nhà Ba và gặp ông bà già Ba. Nhưng chuyện tình cảm tao ngại chưa nói gì. Tôi cũng thú thật với anh là tôi có cảm tình với Ba, vì thấy Ba hiền lành không giống những người bạn của Ba rồi.
Để anh yên chí tôi vào thẳng vấn đề:
-An tâm đi, tình cảm thân thiết giữa hai anh em mình quý trọng hơn, nay tôi đã biết thì không chen vào làm kẻ thứ ba đâu.
Từ đó tôi gặp Ba cũng vui vẻ nói chuyện nhưng không tỏ thái độ quan tâm Ba cho lắm. Cuộc tình của anh Nhật Tân với Ba đến 1966 thì Ba bị bom chết. Anh Nhật Tân thật là buồn. Thời gian này tôi không còn giao du với mấy người đi buôn ở Quế Sơn Hương An nữa, do cách trở anh Nhật Tân với tôi không có dịp gặp gỡ, hay liên lạc thường xuyên. Mãi sau này hay tin anh đi lính Thám Báo đóng ở Quế Sơn, thỉnh thoảng anh em gặp nhau tay bắt mặt mừng, hàn huyên tâm sự. Sau đó anh di chuyển lên Thị Nghè và chúng tôi vẫn giữ liên lạc.

Mãi cho đến 1969 tôi và hai em Tú, Tùng đứng trước nhà đưa mắt nhìn ra đường tán gẫu với nhau. Bất ngờ một chiếc xe đò từ Đà Nẳng vào, dừng ngay trước nhà tôi phía bên kia đường, tôi còn nhớ ngày hôm đó có một người con gái từ trên xe bước xuống, dáng cao ráo, tóc xõa ngang lưng, mặc chiếc áo dài màu rêu xanh, tay cầm cây dù, nước da trắng hồng trông sang trọng vô cùng, khi cô ta bước vào bên lề thì người lơ xe bỏ xuống một bao lớn trong đó toàn là hàng vải may đồ. Tùng, Tú nói tôi ra ghẹo cô ta đi, vì tụi nó nói khích nên tôi băng qua lộ, vừa gặp thì cô nàng cười cười và chào tôi, tôi quá đổi ngạc nhiên không nhớ ra cô ta là ai cả, chỉ mang máng một nhân ảnh nào xa lắc xa lơ mà mình có gặp vậy thôi. Nhưng với tôi… hình như cô ta tỏ vẽ am tường về cuộc sống của gia đình tôi.

Bên kia đường hai đứa em tôi nói vói qua:
-Mời cô vào nhà chơi đi anh.
Lịch sự tôi mời cô vào nhà, em tôi chạy đi lấy nước uống rồi ngồi lại cùng nhau trò chuyện, chuyện trò một lúc cô nàng đã lộ chân tướng chính là con nhỏ Ròm mà mấy năm trước không có chút ấn tượng gì với tôi cả. Tôi tự nghĩ trong lòng:
-Em gái của Ba đây rồi, thật là hai thái cực, cô ta bây chừ khác hẳn con nhỏ Ròm nhón chân mà đạp xe đi buôn chỉ thấy toàn là xương với da.
Trước mắt tôi là một cô gái sang trọng, quý phái. Ở cô ta có tất cả nét dễ thương, cộng thêm vóc dáng. Có ba điểm nỗi bật nhất ở cô ta là mái tóc nữa lưng óng mượt, một vóc dáng trang nhã và đôi bàn tay tròn, thon như búp sen. Sau vài câu thăm hỏi, nhỏ Ròm bắt đầu kể lể chuyện gia đình:
-Khi chị Ba của em mất Ba Mẹ cô quá đau buồn và sợ nên không cho em đi buôn nữa, ở nhà đi học may. Khi thành nghề Ba Mẹ Ròm cho số vốn dọn hàng vải bán (tình hình ở Quế Sơn lúc đó cũng đã được ổn định lại rồi). Nên vài tuần đi Đà Nẳng lấy hàng.
Sau lần gặp gỡ đó, tôi và cô ta quen nhau như anh em, mỗi khi lấy hàng về thì cô ta lại ghé nhà tôi chơi, lần lần tình cảm của hai chúng tôi đi xa hơn. Không ngờ Mẹ tôi là người nhiệt liệt tán thành vì người thấy nhỏ Ròm vừa đẹp vừa buôn bán lanh lẹ, lo làm ăn khiến cho người rất thích. Ông bà già của Ròm cũng rất thương tôi nên tôi không phải bị trở ngại trong việc hỏi cưới nhỏ Ròm.

Cho đến tháng 11/76 chúng tôi mới làm đám cưới, vào thời đó kinh tế khó khăn, phần chính quyền mới không cho tổ chức đông người, tôi chỉ mời số ít bạn và bà con nên đâu có chuẩn bị bàn ghế hay những thực phẩm đãi khách vậy mà bạn bè quen biết nghe tin tới chúc mừng nhiều quá làm anh em nhà tôi phải chạy ra trường học gần đó mượn ghế bàn thêm, phải bắt heo trong chuồng ra mà giết để làm các món ăn đãi khách.

Đến 77 thì chúng tôi sinh được một cậu con trai, và cuối 79 sinh một cháu gái. Những năm tháng tôi xa nhà nàng vẫn giữ lòng thanh bạch, phần nuôi mẹ già của nàng bị tai nạn nằm liệt, phần lo cho mẹ tôi. Trong những ngày kỵ, chạp mả ông bà, và tảo tần buôn bán, may vá cả đêm khuya mà lo cho các con ăn học. Hai đứa nhỏ rất ngoan hiền, mặc dù không có cha sống kề cận nhưng chúng rất dễ dạy, học hành chăm chỉ, giỏi dắn biết vâng lời ông bà, cô dì chú cậu. Nay chúng đã lập gia đình, và vợ chồng tôi cũng được lên chức ông bà ngoại.

Hôm nay ngồi viết bài tự truyện, lòng không thể thầm ”VÔ VÀN CÁM ƠN EM“ đã cực khổ bao nhiêu năm trời lo cho gia đình hai bên và lo cho hai con ăn học đến nơi đến chốn.

Hà Hoàng Vĩnh Lạc

Lang thang trên mạng




Chỉ có hai người trên thế giới làm được như vậy... 
(hình 4Gifs.com )




Muốn gởi bài này cho bạn bè,
xin bấm mouse chọn
Twitter, email, Facebook hay Google+ 
ở lề bên trái.

Ý kiến:

0 comments :

Post a Comment

Xin bạn đọc nhấp mouse vào khung trống và cho ý kiến.